PHẦN I: MỞ ĐẦU - ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh một triết lý sâu sắc: "Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công." Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội địa phương, Đảng ủy và Chính quyền xã Nấm Dẩn xác định: Công tác dân vận không dừng lại ở chính sách tuyên truyền đơn thuần, mà là phương thức lãnh đạo chiến lược, là "chìa khóa" mở ra sức mạnh nội lực trong nhân dân nhằm tạo bước đột phá cho sự nghiệp giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Là địa bàn vùng cao mang tính đặc thù, Nấm Dẩn sở hữu những lợi thế so sánh rõ rệt: địa hình đồi núi rộng lớn, diện tích rừng tự nhiên giàu tiềm năng cùng hệ thống nguồn nước lạnh quanh năm. Đây là nguồn tài nguyên bản địa vô cùng đắt giá. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của xã trong nhiều năm qua chính là sự tồn tại của tư duy sản xuất tự cung tự cấp và tập quán canh tác độc canh cây ngô trên đất dốc. Yếu tố này không chỉ vắt kiệt sức lao động của người dân, khiến năng suất phụ thuộc rủi ro vào thời tiết và biến động thị trường, mà còn gây gia tăng tình trạng xói mòn, suy thoái tài nguyên đất. Hệ quả là cái nghèo bền vững vẫn hiện hữu như một bài toán kinh tế - xã hội nhức nhối, kìm hãm sự phát triển chung của toàn địa phương.
Thực hiện Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 28/4/2026 của UBND tỉnh Tuyên Quang về thực hiện Chương trình hành động số 40-CTr/TU ngày 25/02/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. UBND xã Nhận thức rõ yêu cầu đó và xác định quyết tâm chính trị: Muốn thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu, con đường gốc rễ là phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất dựa trên việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của xã. Đột phá chiến lược này được cụ thể hóa bằng ba mũi nhọn trọng tâm:
Một là, kiên quyết chuyển đổi toàn bộ diện tích trồng ngô kém hiệu quả trên đất dốc sang phát triển cây có giá trị kinh tế cao.
Hai là, đẩy mạnh phát triển mô hình kinh tế dưới tán rừng, thông qua việc trồng các loại cây dược liệu quý; coi đây là giải pháp kép vừa nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích, vừa gắn chặt lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng.
Ba là, khai thác tối đa nguồn nước lạnh tự nhiên để phát triển nuôi cá nước lạnh, trọng tâm là Cá tầm - sản phẩm đặc sản mang tính chủ lực.
Tuy nhiên, từ một chủ trương đúng đắn trên nghị quyết đến sự chuyển biến trong hành động của quần chúng nhân dân luôn là một khoảng cách lớn, đòi hỏi phải có quá trình tổ chức thực hiện quyết liệt. Xác định "chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải một trăm", UBND xã phối hợp cùng hệ thống chính trị cơ sở đã triển khai sâu rộng mô hình "Dân vận khéo", đóng vai trò cầu nối chiến lược để biến ý chí, quyết tâm của Đảng thành hành động tự giác và phong trào cách mạng của nhân dân.
PHẦN II: PHƯƠNG THỨC VÀ MÔ HÌNH "DÂN VẬN KHÉO" TRONG CHUYỂN ĐỔI SẢN XUẤT TẠI XÃ NẤM DẦN
Xóa bỏ một tập quán canh tác lạc hậu đã cắm rễ sâu xa qua nhiều thế hệ là bài toán vô cùng phức tạp. Trong giai đoạn đầu thực hiện chủ trương, Chính quyền xã phải đối mặt với "lực cản" lớn nhất: Tâm lý e ngại rủi ro và tư duy sản xuất an toàn của quần chúng. Bà con do dự trước tính khả thi của mô hình: Thị trường tiêu thụ, giá cả
Nhận diện rõ những "điểm nghẽn" đó, Phòng kinh tế xã đã tham mưu triển khai phương pháp "Dân vận khéo" theo lộ trình đồng bộ, khoa học và mang tính đột phá:
1. "Dân vận khéo" trong công tác tư tưởng: Chuyển đổi từ nhận thức đến niềm tin
Công tác tuyên truyền được đổi mới toàn diện theo phương châm: Nghe dân nói - Nói dân hiểu - Làm dân tin.
Chuyển đổi phương thức truyền thông: Thay thế các hội nghị hành chính khô khan bằng hình thức "dân vận xóm bản". Cán bộ trực tiếp ngồi cùng thôn bản đối thoại, lắng nghe trăn trở và phân tích bài toán kinh tế thị trường. Bằng phương pháp so sánh định lượng trực quan, cán bộ đã làm rõ hiệu quả kinh tế: Một héc-ta ngô trên đất dốc sau khi trừ chi phí chỉ thu về giá trị thặng dư không đáng kể; trong khi đó, mô hình chuyển đổi sang trồng Lê hoặc nuôi Cá tầm cho giá trị gia tăng gấp từ 5 đến 10 lần.
Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên: Thực hiện triết lý "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau", Chi bộ phân công cán bộ, đảng viên và các nhân tố uy tín tại dòng họ tiên phong làm trước.
2. "Dân vận khéo" trong tổ chức thực hiện: Triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ "điểm nghẽn"
Tuyên truyền thuyết phục phải đi đôi với hành động hỗ trợ thực chất. Phòng kinh tế xã đã tập trung giải quyết triệt để hai bài toán cốt lõi: Kỹ thuật và Nguồn vốn.
Chuyển giao tri thức và công nghệ sản xuất: Xã chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên tổ chức các lớp tập huấn theo hướng "Cầm tay chỉ việc" ngay tại thực địa. Đội ngũ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn nhân dân từ khâu cải tạo đất dốc, kỹ thuật trồng và chăm sóc Lê hàng hóa, phương pháp nhân giống dược liệu dưới tán rừng đảm bảo không xâm hại hệ sinh thái, đến quy trình xây dựng bể, điều tiết và kiểm soát môi trường nước sạch đạt chuẩn cho nuôi cá tầm.
Khai thông nguồn lực tài chính: Phòng kinh tế đóng vai trò cầu nối chiến lược giữa nhân dân với Ngân hàng Chính sách xã hội; đơn giản hóa thủ tục, hỗ trợ nhân dân tiếp cận nhanh chóng các nguồn tín dụng ưu đãi. Nhờ đó, nguồn vốn chính sách được giải ngân đúng đối tượng, tạo động lực tài chính trực tiếp để người dân đầu tư con giống, vật tư và mở rộng quy mô sản xuất.
3. "Dân vận khéo" trong kiến tạo chuỗi giá trị và phát triển bền vững
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại Nấm Dẩn không dừng lại ở bài toán tăng trưởng đơn thuần, mà được đặt trong mục tiêu chiến lược: Phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường và bao tiêu sản phẩm.
Gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên: Công tác tuyên truyền giúp nhân dân xác định rõ mối quan hệ hữu cơ: "Bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn sinh kế bền vững; giữ được rừng thì mới giữ được nguồn nước sạch nuôi cá và môi trường cho cây dược liệu." Nhờ giải quyết hài hòa bài toán lợi ích, người dân từ vị thế khai thác tài nguyên thụ động đã trở thành lực lượng nòng cốt, tự giác tham gia quản lý và bảo vệ rừng.
Xây dựng liên kết chuỗi - Khai thông đầu ra: Vận động thành lập các Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, đóng vai trò đầu mối tổ chức sản xuất. Xã đã chủ động xúc tiến thương mại, ký kết hợp tác với các doanh nghiệp, thương lái trong việc bao tiêu sản phẩm Lê, dược liệu và Cá tầm. Việc hình thành chuỗi liên kết "Sản xuất - Thu mua - Tiêu thụ" đã triệt tiêu rủi ro "được mùa mất giá", giúp nhân dân yên tâm đầu tư sản xuất quy mô lớn.
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ THỰC TẾ
Nhờ thực hiện hiệu quả công tác "Dân vận khéo", bức tranh kinh tế - xã hội của xã vùng cao chúng tôi đã có những chuyển biến rõ rệt:
Chuyển đổi cây trồng trên đất dốc: Trong năm 2026 có 9 hộ gia đình mạnh dạn chuyển đổi 6,5 ha tích trồng ngô kém hiệu quả đã được chuyển đổi thành công sang trồng cây Lê chất lượng cao. Cây Lê không chỉ cho thu hoạch quả mang lại giá trị kinh tế cao mà còn tạo nên cảnh quan đẹp, mở ra hướng phát triển du lịch sinh thái trải nghiệm.
Kinh tế dưới tán rừng: Phát huy lợi thế về diện tích rừng và điều kiện sinh thái, năm 2026 xã mở rộng thêm 30 ha Sa Nhân tím, nâng tổng diện tích cây dược liệu lên 1.020 ha, từng bước hình thành vùng sản xuất dược liệu tập trung
Phát triển nuôi cá nước lạnh: Tận dụng tối đa nguồn nước suối chảy quanh năm, toàn xã đã hình thành nhiều mô hình, trang trại nuôi cá tầm. Duy trì, phát triển nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao với 70 bể nuôi cá tầm và 06 lồng nuôi cá lăng.
PHẦN IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ thực tiễn vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại xã, chúng tôi rút ra 03 bài học kinh nghiệm sâu sắc:
Thứ nhất: Công tác dân vận phải luôn bám sát thực tiễn, xuất phát từ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Muốn dân tin và làm theo thì cán bộ phải sâu sát cơ sở, "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" và lắng nghe những lo âu, trăn trở của người dân.
Thứ hai: Dân vận không chỉ tuyên truyền bằng lời nói mà phải gắn liền với giải pháp đồng bộ. Phải giải quyết được 3 mắt xích quan trọng: Kỹ thuật - Nguồn vốn - Đầu ra sản phẩm.
Thứ ba: Phải phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân theo phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Khi người dân thấy rõ lợi ích của mình trong đó, họ sẽ tự giác và tích cực tham gia.
PHẦN V: KẾT LUẬN
Mô hình vận động người dân chuyển đổi từ cây ngô sang trồng Lê, trồng cây dược liệu dưới tán rừng và nuôi cá tầm nước lạnh tại xã vùng cao chúng tôi là bằng chứng sinh động cho hiệu quả của công tác "Dân vận khéo".
Việc đánh thức tiềm năng đồi núi, nguồn nước và thảm rừng xanh không chỉ giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, quyết tâm xây dựng xã vùng cao ngày càng giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững.
Họ và tên thí sinh: Vũ Thị Sâm
Ngày, tháng, năm sinh: 1986
Đơn vị công tác: Phòng kinh tế xã Nấm Dẩn
Chi bộ: UBND xã Nấm Dẩn